Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Đạo diễn, nhà văn Nguyễn Anh Tuấn: “Văn chương công năng là hồn mai của điện ảnh”.

Với những giá trị kinh điển quý báu, thì đời đạo diễn vừa nói (cùng những thành phần khác của điện ảnh như quay phim, âm thanh, biên kịch

Đạo diễn, nhà văn Nguyễn Anh Tuấn: “Văn chương là hồn vía của điện ảnh”

Với nhân cách là một nhà làm phim độc lập, giờ đây tôi có nhiều dự định làm phim. Còn kịch bản “Ký ức sông Hồng” mấy năm trước tôi đã viết trót hơn hai chục tập, gửi đi mấy nơi, hy vọng đợi được đầu tư để làm thì bị cướp trắng mất, đành cặm cụi viết những cái khác. V.

Con cần có đủ lòng gan dạ để sẽ không bị chết chìm trong những dòng thác ngôn từ hình ảnh của cái thời mà quơ biến thành lăng xê và mọi giá trị đều bị quy thành vàng thành tiền dù là tiền vàng nhân gian hay tiền vàng âm phủ”. Điều mà ông ưng ý nhất trong bộ phim này là gì?    - Chính là điều mà bạn đã phát hiện: “Tính triết lý của phim cũng không gượng ép”.

Chỉ có điều, đành phải chịu “Sao cho làm nhục một lần mới thôi”!    Xin cảm ơn ông. Những phim thị trường sôi động mấy năm qua tôi không xem được nhiều lắm, song cũng đủ để tự rút ra một số nhận định dành cho việc giảng dạy của mình. Ông nghĩ gì về thế hệ đạo diễn ăn khách bây chừ, hay những đạo diễn nói lật dễ như trở bàn tay, mà phim thì quá tồi? Còn những phim được khen ngợi như “Bi, đừng sợ”, “Cú và chim sẻ…” thì sao?     - thế hệ đạo diễn “bạc tỉ” đó - một số không ít là sản phẩm đặc sệt của công nghệ điện ảnh Mỹ, nghĩa là điện ảnh thương nghiệp chuyên sinh sản loại “phim chợ” (kể cả phim “bom tấn”), họ được đào tạo khá bài bản các thủ pháp của nền công nghệ ấy mà mục tiêu lớn nhất (nếu không muốn nói duy nhất) của những “Ông chủ Hollywood” (tên một tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Fitzgerald) là câu khách đến rạp thật nhiều.

Văn chương bao giờ cũng là cái gốc, là cái hồn phách của điện ảnh. Nói tính triết lý thì to tát quá, thực ra thì tôi cũng muốn qua chất “phúng dụ” kiểu “Trái tim chó” của Bulgakov để động chạm tới một vấn đề nóng bỏng thời sự bằng hình tượng có tính đại quát - không chỉ là chuyện mua bán nội tạng trái phép tới lúc cần rung hồi chuông báo động, mà cái chính là thái độ dửng dưng trước nỗi bất hạnh của con người giữa cái thời buổi chủ nghĩa thực dụng chủ nghĩa cực đoan lên ngôi.

Gần đây, nhiều bài thơ của ông được cộng đồng mạng để ý, bởi những gì không tải được vào phim, ông “chuyển hệ” văn học với lối viết thẳng, dữ dội mà cũng rất xúc động.

Giữa văn chương, điện ảnh có mối liên tưởng nào không thể thiếu, theo ông?    - Câu hỏi này đã có lần tôi hỏi sinh viên lớp đạo diễn truyền hình tôi đang chủ nhiệm rồi! Sau khi nghe SV đáp, tôi chỉ tóm lại: Nhà văn Nga Pautovsky đã từng nói: “Sự tiếp thụ cuộc thế một cách thi vị là món quà vĩ đại nhất mà tuổi thơ đã cho ta. ) - Bản tính là những kịch bản điện ảnh, cộng với khá nhiều kịch bản đã viết và đang viết, tôi vẫn ấp ủ các dự án phim truyện.

Thế nhưng, điều đáng buồn nhất là họ không học được ở nghệ thuật điện ảnh Mỹ những giá trị lớn vượt khỏi thương mại (kể cả ở một ông chủ Hollywood từng tuyên bố sẵn sàng bỏ tiền ra làm phim dù chỉ một người vào rạp nhưng có thể tiến tới thảm đỏ Oscars và các giải danh giá khác của thế giới!).

Một phần cũng do cái “gu” của tôi chăng?    thú thiệt, có một thời gian dài nhiều người không thích xem phim truyện VN. Ông cũng không ngại nói thẳng: “Làm phim hay làm tiền” về những đạo diễn chiếm thế thượng phong với số lượng phim ra rạp, nhưng “đóng góp” cũng như “hệ lụy” dòng phim của họ đến đâu thì chỉ không chỉ người trong cuộc mới thấy rõ! Đau đáu, ôm ấp những kịch bản phim, nhưng để làm ra một bộ phim tử tế cho người xem, không trinh nữ với chính bản thân mình - đó còn là nỗi khó nhọc của những đạo diễn không vây cánh, giữ chữ tín trong nghề, mà như ông tự gọi, những “hiệp sĩ cô độc”.

) Đã không có điều kiện tiếp thụ! Tại trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội bây giờ (mà tôi có dự giảng dạy), các giáo trình điện ảnh Mỹ chỉ được coi là một trong những loại tài liệu để tham khảo, và các sinh viên điện ảnh và truyền hình của ta ít có nguy cơ bị rơi vào cái hố thương nghiệp kinh khủng của điện ảnh Mỹ; nhưng đồng thời, bởi điều kiện vật chất quá thiếu thốn lạc hậu, họ lại kém cạnh rất xa các vị được đào tạo ở Hollywood về những kỹ năng thực hiện nghề! Trong khi đó, những chính sách vĩ mô về đào tạo các đời điện ảnh tiếp nối (có việc rất quan trọng là cử sinh viên ra nước ngoài học tập) thì thường chỉ tồn tại trên các chỉ thị, nghị quyết, trong các hội thảo hội nghị nhàm! Với những “đời đạo diễn bạc tỉ” nói trên, cùng với phim ngoại nhập “loại ba” tràn lan và sự ngơ của các cấp lãnh đạo văn hóa - điện ảnh, phim Việt đã, đang và sẽ làm khán giả bội thực bởi thứ phim thương mại - tiêu khiển thuần túy; đó sẽ là một trong những “thảm họa” lớn nhất của phim Việt (theo một cách nói thân thuộc gần đây của công luận); thế nhưng họ đang có ảnh hưởng rất mạnh, là cái đích, là mẫu hình phải vươn tới của nhiều người làm phim trẻ, nhiều sinh viên điện ảnh! Người làm phim đàng hoàng thì xơ xác tìm tiền để thực hiện ý đồ sáng tác, kẻ dịp thì nhăm nhăm đục khoét, còn một số người có nghĩa vụ trong ngành văn hóa nói chung và điện ảnh nói riêng thì thiển cận, song quả thực là cũng đã quá mỏi mệt, nản.

Đó là những phim không chỉ mang một thứ ngôn ngữ điện ảnh khá độc đáo mà có dung lượng nhân văn lớn. Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn (có một đạo diễn cùng tên nhưng dòng phim khác) từng làm nhiều phim; phim truyện nhựa đầu tay là “Vầng trăng lửa”.

Về phim tài liệu, tôi đang thí điểm loại phim “Tùy bút điện ảnh” (Phim “Bốn mùa Hà Nội” 4 tập phát VTV2 dịp Nghìn năm Thăng Long-Hà Nội là khai mạc).

Thực tại ngoài đời, không ít quan chức thoái hóa có thừa tiền để mua vài quả tim để thay chứ không phải là một như nhân vật Đại! Và họ vẫn đang sống nhơn nhơn trên sự đau khổ của dân lành mà chưa bị trị đích đáng như Đại! Phải chăng vì sự “nhạy cảm” như vậy mà phim này chỉ gặt hái Bằng khen trong một LH Truyền hình toàn quốc tại Nha Trang? (mà tôi còn thích nó hơn cái phim “Đảo xa” được Huy chương Vàng của mình!).

Trước mắt là Tùy bút về chùa Việt, Tùy bút về Cây lúa Việt, mỗi cái có độ dài chí ít hai chục tập 30 phút, hiện đã có kịch bản tương đối, nhưng tôi đã rút kinh nghiệm đắng cay từ “Ký ức sông Hồng” rồi! Với một số truyện vừa (đã xuất bản) của tôi (như “Lũ muộn”, “Xòe trinh nữ”, v. Tuy vậy, bộ phim này mới chỉ là sự thử nghiệm, vượt khỏi một phim tốt nghiệp của sinh viên, chưa đạt tới sự hoàn mỹ kinh điển ở nhiều phương diện.

Ông có thể cho biết dự án làm phim tài liệu về các nhà văn, nhà văn hóa của mình?    - Tôi đã có tư liệu hình ảnh của một số tác giả thử Lưu Trọng Lư, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần. Nếu sau nhiều năm tháng, người ta vẫn giữ được món quà quý đó, người ta sẽ trở nên thi sĩ, nhà văn.

Còn với phim “Bi, đừng sợ” của đạo diễn Phan Đăng Di, tôi đã nói một cách sòng phẳng trong bài viết: “Người làm phim cần biết sợ điện ảnh”. Theo ông, có phải nhược điểm phim truyện Việt như người ta thường bộc lộ ngoài nói nhiều, hình ảnh nghèo, tiết tấu chậm, nhạc không ăn khớp mấy, còn có nhân tố không cho người xem là người biết tư duy…? hay điều gì khác?     - Đúng là ắt những điều vừa liệt kê ra đấy! Và nhược điểm lớn nhất là đã thiếu đi hoặc rất mờ nhạt cái mà người xem đang cần, rất cần, đó chính là ngọn lửa ở bên trong tác phẩm, là cái thái độ ngay thẳng bênh vực con người, là cái thông điệp về nhân sinh ngầm sâu mà những người làm phim cần gửi đến người xem qua hàng loạt những hỉ, nộ, ái, ố, những cảnh sắc, những trang phục và diễn xuất… Tôi biết rõ một số người làm phim mà điện ảnh đối với họ chỉ là nơi để mua danh và trục lợi dễ dàng hơn trong lĩnh vực khác!    Dạo gần đây, phim Việt xuất hiện những đạo diễn “bạc tỉ”.

Tôi xin phép Pautovsky bổ sung: Người ta cũng có thể trở thành cả nhà điện ảnh nữa! Người nghệ sĩ ngôn từ và người nghệ sĩ nói chung đều cần có phẩm chất tâm hồn như nhau, mà điều quan yếu nhất là tình yêu sâu xa đối với con người, với thiên nhiên.

Ông còn tin ở sức mạnh của thi ca nữa hay không? Vì sao những dòng thơ chân thực như thế đang chết giữa rừng “thơ” phù phiếm? Độc giả của dòng thơ đó là những ai?    - Theo tôi, đó cũng chính là những chất liệu của điện ảnh thứ thiệt mà tôi đang tìm cách diễn đạt chúng bằng công cụ phim ảnh.

Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn. Xem “Đảo xa”, lâu lắm rồi mới gặp lại xúc cảm chân thật trong một câu chuyện mang tính nhân văn, còn “Trái tim đầu thai” mang dáng dấp một kịch bản phúng dụ, hài hước cơ mà sâu sắc.

“Trái tim đầu thai” được 3 điểm cộng: Là phim “không biết trước”, tính triết lý của phim cũng không gượng ép, có kịch tính, trong khi nhiều phim Việt hầu như chơi có kịch tính thật.

Những bài thơ của ông là góc ông sống thật nhất, quyết liệt nhất:  “…Nhưng nếu thơ ca không còn là thơ ca nữa dám chắc những con bọ của Kafka không sinh sôi nảy nở như dịch hạch? Và nếu lương tâm của mọi nhà báo đều bị nỗi khiếp sợ bẻ gập cong queo ai dám chắc những tên giết người có dao hoặc không dao chẳng thể mặc áo quan tòa?” (Khóc một thi sĩ, nhà báo) “Phải, hãy dũng cảm lên con, dù con đang làm một “kẻ ăn xin” rất lâu nữa trước khi là người biết cho và có khả năng cho người khác… Bởi lòng dũng mãnh là nguồn gốc của hiền lành, Lương thiện - những danh từ đã bị lạm dụng, bị lợi dụng, thậm chí bị móc túi nội dung từ những người đáng yêu, trong đó có kẻ “ăn xin” dốt như con.

Và cũng chính niềm tin ở thi ca, ở tính thiện của mọi người cũng giúp tôi đi qua nỗi tuyệt vọng trước thực trạng điện ảnh - truyền hình hiện nay để đấu nuôi ước muốn làm phim của mình.

Ông còn nhiều bài phê bình điện ảnh, chỉ ra rằng, rất nhiều cái gọi là “tác phẩm điện ảnh” thực chất chỉ là công cụ “móc túi” khán giả, còn những thí điểm nghiêm trang về nội dung - nghệ thuật thì bị lãng quên, bị coi rẻ, không được ủng hộ. Và tôi tin rất nhiều người đọc đã, đang và sẽ có đồng cảm như thế, đó chính là điều giúp tôi tin hơn ở “sức mạnh thi ca”.

Trong thời hoàng kim của “Văn nghệ chủ nhật” (VTV3), ông đã đóng góp hàng chục tập phim truyện truyền hình do ông viết kịch bản: “Biển lặng”, Người kế thừa dòng họ”, “Hồn của đất” , “Lời ru muộn mằn”, “Chuyện học đường”, “Tầng cao nghiệt ngã”, “Phiên tòa tình ái”, “Ông bầu ca nhạc”, “Họ đã từng yêu như thế”, “Bản lĩnh người đẹp” (16 tập, được khán giả bình chọn là phim yêu thích trong năm) v.

Trong số phim VN, có thể điểm mặt những phim ông thích? Vì sao?  - Không nhiều lắm, ví dụ: “Bao giờ cho đến tháng mười”, “Thương nhớ đồng quê” (Đặng Nhật Minh), “Canh bạc” (Lưu Trọng Ninh), “Ngọn đèn trong mơ” (Đỗ Minh Tuấn). Trong khi các bộ phim thương nghiệp được tung lên mạng la liệt, thì những bộ phim tử tế, từng được phát sóng trên các đài truyền hình, lại bị chìm nghỉm.

Giải Cánh diều Vàng cho nó là một thí dụ tốt cho Giải thưởng này của Hội ĐA. Nhiều năm qua tôi đã lặng thầm vác máy quay ghi lại tư liệu như thế. “Cú và chim se sẻ”, bộ phim rất tâm huyết của đạo diễn Mỹ mang hai dòng máu Việt Pháp Stephane Gauger là một phim dễ thương, nhất là không chạy theo khuynh hướng thương nghiệp, có cái gì đó khiến người xem hệ trọng tới những phim của Làn sóng mới (Pháp), Tân hiện thực (Italia) và rất đáng khuyến khích.

V. ”. Ngoài điện ảnh Mỹ ra, còn những nền điện ảnh lớn khác như Pháp, Italia, Nga. (Quả cảm lên con).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét