Dự án để được khai triển phải có tên trong quy hoạch (tổng sơ đồ điện nhà nước và quy hoạch thủy điện tỉnh)
Trong những năm tiếp sau 2010, chỉ còn một vài dự án lớn như Sơn La 2. Tiềm năng thủy điện sắp cạn Chúng ta đều biết điện dùng bằng điện sản xuất cộng điện nhập khẩu trừ đi điện tằn tiện.
Năm nay, thủy điện “được mùa”, khó bán nhưng dân vẫn hứng chịu giá cao. 000 MW/năm với tỉ lệ tăng khoảng 12%/năm), trong đó thủy điện chiếm 6. 000 MW và 150. Thủy điện sông Ba Hạ (tỉnh Phú Yên) bất ngờ xả lũ gây khốn đốn cho người dân ở hạ du Ảnh: HỒNG ÁNH Tô Văn Trường. Năm 2001, công suất max hệ thống khoảng 6. 400 MW, Lai Châu 1.
Tuy nhiên, nhìn tổng thể bài toán cơ cấu nguồn điện năng của nước ta thì thủy điện chiếm tỉ lệ quá cao trong tổng sơ đồ điện. Đối với quy hoạch tổng lược đồ điện, từ trước đến nay đã qua 7 kỳ quy hoạch và nhiều lần hiệu chỉnh quy hoạch, việc quy hoạch chính yếu dựa trên tiêu chí tối ưu phí đầu tư và vận hành hệ thống điện, theo nhu cầu năng lượng của nhà nước song lại không chú trọng tiêu chí ảnh hưởng đến môi trường.
Đối với quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ thì được cấp tỉnh phê duyệt, nội dung nghiên cứu quy hoạch cũng chưa chú trọng nhiều đến vấn đề môi trường.
Một số tác động gần đây như lũ tăng thất thường, động đất kích thích, vỡ đập, phá rừng, biến đổi sinh thái và hình thái hạ lưu sông… là kết cục tất yếu của một quá trình lâu dài hơn 10 năm khẩn hoang thủy điện nhưng các chế tài chưa ăn nhập với phong trào “nhà nhà làm thủy điện, người người làm thủy điện”. Các công trình thủy điện nhỏ đã xây dựng cũng đang ngắc ngoải vì lỗ vốn như hồ Cấm Sơn (Thái Nguyên), thủy điện sông Mực (Thanh Hóa)… Hàng loạt đại gia cũng đua nhau bán lại thủy điện nhỏ, điều ấy không có gì lạ! Mạnh ai nấy làm Trong khai phá tài nguyên nước, mặt lợi và hại luôn đan xen nhau, đó là tính 2 mặt của quy luật phát triển.
Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc gia, nhu cầu năng lượng nhà nước, việc khẩn hoang thủy điện để cung cấp năng lượng là tốt vì đây là nguồn năng lượng tái sinh.
Năm nay, không có lũ lớn nhưng mưa dài ngày, lượng nước đổ vào các hồ chứa thừa thãi, đúng là “trời cho” nhưng lại không biết dùng hiệu quả. Thủy điện đòi hỏi đầu tư rất lớn nhưng tác động đến môi trường cũng không nhỏ, phải di dân tái định cư, đổi thay dòng chảy tự nhiên, môi trường thọ thái động thực vật, đa dạng sinh vật học, đặc biệt tàn phá rừng.
Hiện tại, công suất thủy điện trong hệ thống khoảng 11. 000 MW và tiềm năng kinh tế - kỹ thuật khoảng 20. 000 MW nhưng đến năm 2009 con số này đã là khoảng 14. Có một lỗ hổng trong quy trình quản lý nên việc quản lý, cấp phép và giám sát môi trường chưa chặt đẹp dẫn đến các tác động ngoài mong muốn mà một bên không thể dễ dàng nhận bổn phận. Như vậy, rõ ràng là trong tuổi 2001-2010, một thập niên bùng nổ thủy điện, gần như tiềm năng kinh tế - kỹ thuật nguồn thủy điện đã được phá hoang rất lớn.
100 MW sẽ được vỡ hoang đến năm 2015 là gần như hết tiềm năng thủy điện Việt Nam. Phương trình này đơn giản nhưng không phải là bài toán dễ giải.
Cho đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa duyệt được quy hoạch tổng thể nào do chất lượng sản phẩm chưa đạt yêu cầu nên không tạo được khung định hướng chung, nhất là giải quyết mâu thuẫn giữa các ngành dùng nước.
200 MW cùng một số thủy điện vừa và nhỏ khoảng 2. Thủy điện là nguồn điện rẻ, sạch, có khả năng tái tạo nên các quốc gia có tiềm năng về thủy thế, nguồn nước đều ưu tiên quý trọng thủy điện.
000 MW
Đối với quy hoạch thủy điện theo lưu vực sông, chỉ một số ít có quy hoạch cụ thể và cũng chỉ có các dự án trên 30 MW mới được xem xét. 500 MW. 000 MW (nhàng nhàng tăng 1. 000 MW. Dự báo đến các năm 2020 và 2030, tổng công suất hệ thống là khoảng 75. Hai bên mạnh ai nấy làm, không có sự phối hợp, ăn khớp với nhau.
Trong thực tế, vắng đánh giá tác động môi trường (ĐTM) có chất lượng chưa tốt do hạn chế ở khâu kinh phí, nguồn nhân lực (kể cả những người lập bẩm lẫn hội đồng xét duyệt). 000 MW, trong đó thủy điện tương ứng là 17. Tiềm năng lý thuyết thủy điện Việt Nam khoảng 75. Vấn đề của Việt Nam là con người, kể cả người thực hành, chủ đầu tư và người quản lý.
Lời nguyền tài nguyên có câu “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, ngẫm suy thật chuẩn xác vì đó là cái giá phải trả do đối xử tệ hại với môi trường sinh thái thiên nhiên. Trận lũ quét kinh hoàng gây thiệt hại lớn ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai vào đầu tháng 9-2013 có căn do từ phá rừng đầu nguồn làm thủy điện Ảnh: VĂN DUẨN Nguồn năng lượng điện ở Việt Nam từ trước đến hiện thời vẫn cốt yếu dựa vào các nguồn nhiên liệu chính là than đá, khí (nhiệt điện) và nước mặt ở các dòng sông (thủy điện), trong đó nguồn thủy điện luôn duy trì tỉ trọng lớn khoảng 40% trong cơ cấu nguồn điện ở Việt Nam từ trước đến nay.
Một số lưu vực trước đây khi lập quy hoạch, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có thuê tư vấn nước ngoài lập với uổng đáng kể thì vấn đề môi trường được đánh giá khá chi tiết và có khuyến cáo cụ thể khi xếp hạng ưu tiên khẩn hoang, hay nói cách khác là các dự án được xếp hạng theo tiêu chí kinh tế, kỹ thuật, môi trường.
Con người gánh trọn hậu quả Các tác động của thủy điện thì ai cũng nhìn thấy, cả mặt lợi và hại. 000 MW (23%) và 18. Phí tổn cho một kỳ quy hoạch tổng sơ đồ phát triển điện nhà nước (5 năm/lần) rất hạn chế nên khó đáp ứng cho việc đánh giá tác động môi trường từ các dự án nguồn, trong đó có thủy điện. Trên thực tế, đã xảy ra các mâu thuẫn sử dụng nước ở Vu Gia - Thu Bồn, chuyển nước của công trình DakMi 4 và Đà Nẵng, các công trình ở An Khê, Gia Lai.
Mặc dầu vai trò nguồn thủy điện trong cơ cấu nguồn điện chiếm tỉ trọng lớn nhưng việc đầu tư cho công tác quy hoạch chưa cân xứng với tiềm năng.
Việc đánh giá tác động môi trường lại được “lồng ghép” cho quy hoạch từng dự án cụ thể hoặc đánh giá chung chung khi lập quy hoạch lưu vực sông và quy hoạch cấp tỉnh nên chất lượng rất hạn chế.
Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện quy hoạch tổng hợp lưu vực sông có nghĩa là nghiên cứu phân bổ nguồn nước hợp lý.
Bây chừ đã có Luật Tài nguyên nước nhưng lại đấu cho soạn thảo Luật Thủy lợi, vừa chồng chéo vừa thừa. Hồ Sơn La, hồ Hòa Bình cũng phải phát điện hạn chế dù rằng nước đầy hồ rất hoang.
Ngoài nguyên do do lâm tặc hoành hành, sự tiếp tay của những phần tử thoái hóa trong chính quyền thì việc phát triển thủy điện tràn lan, tàn phá rừng đầu nguồn, kể cả vườn quốc gia, chính là tác nhân gây nên các hiện tượng lũ quét, lũ ống, sạt lở núi đồi…, phá hủy các cơ sở hạ tầng, làm nhiều người bị rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, đặc biệt là cướp đi sao sinh mạng của người dân vô tội.
Duyên do dẫn đến sự hủy hoại môi trường quá mức từ các dự án thủy điện là do chúng ta chưa có tiêu chí đánh giá tuyển lựa dự án khai thác tổng thể theo sự tiến bộ về nhận thức của từng lớp, nghĩa là chỉ có tiêu chí kinh tế - kỹ thuật mà chưa có tiêu chí kinh tế - môi trường - kỹ thuật.
Chính sự dễ dãi, thậm chí lơi lỏng trong giám sát, đã bắt môi trường thiên nhiên và người dân phải hứng chịu mọi hậu quả. Bộ Công Thương và các tỉnh, thành vừa “trảm” hàng trăm dự án thủy điện vừa và nhỏ, điều này càng chứng tỏ công tác quy hoạch thủy điện lợi bất cập hại.
000 MW, tiềm năng kỹ thuật khoảng 31. Chỉ còn lại một ít dự án thủy điện tích năng sẽ được nối khai khẩn sau năm 2020.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét